GIA ĐÌNH TẬN HIẾN ĐỒNG CÔNG
MIỀN TÂN SƠN NHÌ

P.KM,CMC

ĐẶC ÂN MẸ LÊN TRỜI

Ôi Trinh Nữ khoác áo hồng rực sáng!

Mười hai sao là mũ ngọc tinh tuyền.

Mảnh trăng ngà là bệ đặt gót sen.

Rực rỡ quá, vinh quang Ngài chói lọi!

                             (Thánh Thi lễ Mẹ Lên Trời).

Ngày 01.11.1950 Đức Thánh Cha Piô XII trong tông hiến Munificentissimus Deus đã long trọng công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời như sau: "Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đức Maria Vô Nhiễm trọn đời đồng trinh, sau khi đã đi trọn cuộc đời trần thế, được triệu vời cả hồn lẫn xác trong vinh quang thiên quốc”. Đặc ân hồn xác lên trời vừa như hoa trái vinh quang của trọn vẹn cuộc đời hoàn toàn thuộc về Chúa, vừa là kết thúc và bao gồm mọi đặc ân Thiên Chúa đã ban cho Mẹ Maria. Khi tuyên dương công trạng đầy tràn của Mẹ Maria bằng việc triệu vời Mẹ về trời, Thiên Chúa đã biểu dương chính hồng ân Chúa ban cho Mẹ. Và như vậy Thiên Chúa muốn đề cao Mẹ Maria như thành quả tuyệt vời có một không hai của ân sủng, để mọi người ở mọi thời ngợi khen Mẹ diễm phúc, và nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng chí thánh chí tôn đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả.

Để dự phòng chức năng độc nhất của Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, và để Mẹ thích thuận chu toàn chức năng ấy. Thiên Chúa, với tình đại lượng không cạn, đã làm giầu Mẹ bằng những đặc ân cá biệt. Những đặc ân này đã tô điểm trót cuộc sống trần gian của Mẹ, từ giây phút đầu tiên tới giây phút cuối cùng, sao cho Mẹ trở thành “kiệt tác thật” của Thiên Chúa.

* Giây phút đầu tiên đời Mẹ, Mẹ Maria đã là Đấng Vô Nhiễm, nghĩa là, dị biệt với tất cả các con cháu khác của Ađam do đường sinh sản thông thường, Mẹ được giữ gìn khỏi nguyên tội và, do đó, khỏi mũi nhọn khích động của tình dục, duyên cớ gây nên các tội Hiện phạm (tội riêng mỗi người).

[Trước hết ta nên biết, Thiên Chúa đã ban cho nguyên tổ chúng ta ba loại ân tứ trước khi nguyên tổ chúng ta phạm tội và đánh mất chúng là:

- Ân tứ tự nhiên, thiết yếu, cần thiết để trở nên một hữu thể nhân loại, tức là linh hồn suy luận và thân xác, thành nên bản tính nhân loại.

-Ân tứ ngoại nhiên, bổ túc bản tính nhân loại, nhưng không bắt buộc phải ban cho bản tính ấy. Có ba ân tứ loại này: miễm khỏi tình dục, tức là khỏi những xu hướng thác loạn về giác dục; bất tử về thể xác và miễn khỏi các bệnh tật; sau cùng: tri thức thiên phú cân xứng với bậc con người.

- Ân tứ siêu nhiên: Thánh sủng (tham phần với bản tính Thiên Chúa) kèm với các nhân đức hữu quan và các ân tứ thiên phú.

Vì phạm nguyên tội, nguyên tổ chúng ta đã làm mất những ân tứ siêu nhiên và ngoại nhiên, cả cho mình cả cho miêu duệ; chỉ còn giữ lại được các ân tứ tự nhiên.]

* Trong suốt cuộc đời trần gian của Mẹ, Mẹ Maria do một đặc ân cá biệt, đã luôn luôn đồng trinh, trước, trong và sau khi sinh hạ chúa Giêsu.

* Giây phút sau cùng đời sống trần gian của Mẹ, trái với hết mọi người khác, Mẹ được rước lên trời hồn xác.

Đó là ba đặc ân [Vô nhiễm, Đồng trinh, lên trời hồn xác] Thiên Chúa chỉ ban cho một mình Mẹ Maria mà thôi

1- “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?"

Bà Ê-li-sa-bét được đầy tràn Thánh Thần đã lớn tiếng tuyên xưng thiên chức Thánh Mẫu của Mẹ Maria. Thiên chức Thánh Mẫu cao cả giờ đây đang bày tỏ ra nơi chính con người thiếu nữ Maria bằng xương bằng thịt, bình thường, giản dị và khiêm nhường thẳm sâu. Chỉ bằng việc có mặt khi đến thăm và chỉ bằng một lời chào đơn sơ của Đức Maria, bà Ê-li-sa- bét lại nhận ra thiên chức Thánh Mẫu của Mẹ. Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa bằng cả hồn cả xác của mình.

a) Mẹ Thiên Chúa bằng tâm hồn.

Trong khi Chúa Giêsu đang giảng thì có một người phụ nữ đã lên tiếng nói với Chúa: "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm (Lc 11, 27). Thuộc giới phụ nữ và trong tư cách làm mẹ. người phụ nữ ở đây cảm phục và yêu mến Chúa Giêsu bao nhiêu, thì lại muốn đề cao và hết lòng ca ngợi hồng phúc của người mẹ đã sinh ra Chúa bấy nhiêu. Đó là cái nhìn thường tình. Nhưng Chúa Giêsu cho thấy cần phải vượt lên trên quan niệm tự nhiên mới có thể đánh giá được hồng phúc làm Mẹ của Đức Maria, và hồng phúc đó trước hết và cốt yếu là ở trong tâm hồn: "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11, 28).

Một lần kia Mẹ Maria và anh em họ hàng đến thăm Chúa Giêsu và khi nghe biết thế, Chúa Giêsu đã đề cao Mẹ Maria trong chiều sâu thẳm của thiên chức Thánh Mẫu: “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là  những ai nghe lời Thiên Chúa vàø đem ra thực hành” (Lc 8, 21). Như vậy căn bản thiên chức Thánh Mẫu của Đức Maria, không chỉ do ngài được làm Mẹ Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người - tại tâm hồn của Mẹ đã hoàn toàn mở ra cho Lời Chúa, và Lời Chúa thành sự sống và lẽ sống của Mẹ. Mẹ Maria đã cưu mang Lời Chúa trong tâm hồn trước khi cưu mang Ngôi Lời trong thân xác. Thánh Âu-Tinh còn nhận định tư cách môn đệ nơi Đức Maria (Mẹ trong tâm hồn) trổi vượt hơn tư cách làm mẹ nơi Đức Maria (Mẹ trong thân xác).

b) Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa

Khi Lời Thiên Chúa đã đi vào và thấm nhuần trọn vẹn tâm hồn Đức Maria tới mức sung mãn, thì Lời Thiên Chúa đi vào trong thân xác vô nhiễm của Đức Maria. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa theo một nghĩa trọn vẹn (cả hồn xác). “Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người”(kinh Tin Kính) Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa bằng con người toàn diện, cả hồn lẫn xác. Có nghĩa là hồn xác Mẹ vốn đã thuộc về Chúa, dành riêng cho một mình Chúa. Và như vậy thân xác Mẹ không phải hư nát là dấu thuộc về trần gian cát bụi. Mẹ xứng đáng lên trời cả hồn xác. Đó là điều đã được tiền định do ý định khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa khi tuyển chọn Mẹ làm Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể.

2. "Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới "

Trong ngày Truyền tin, Đức Maria đã thưa lời xin vâng với Thiên Chúa, một lời xin vâng toàn vẹn và tuyệt hảo, bao gồm cả quá khứ hiện tại và tương lai. Mẹ đã không ngừng “xin vâng” với mọi lời Thiên Chúa đến với Mẹ từ trước đến nay. Và giờ đây tiếng xin vâng thốt ra ngoài miệng là âm vang và kết quả của tâm hồn Mẹ đã hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa. "Tôi đây là nữ tỳ của Chúa " là một lời xác định rằng: từ trước đến nay và mãi mãi sau này, tôi là nữ tỳ của Chúa, hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa. Hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa cả hồn xác trong mọi lúc, là một cách giải thích đặc ân Vô nhiễm nguyên tội và trọn đời đồng trinh của Mẹ Maria.

a) Mẹ Maria Vô Nhiễm nguyên tội.

Đức Maria đầy ân sủng được Giáo Hội công nhận là ‘toàn thánh và khỏi mọi vết nhơ tội lỗi”, “tràn đầy thánh thiện có một không hai ngay từ lúc mới thụ thai” (LG 56).

Sự nhìn nhận này cần một quá trình lâu dài để suy nghĩ về mặt đạo lý, cuối cùng mới đưa tới sự công bố long trọng tín điêàu “Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Khi tuyên bố sự Vô nhiễm thai của Đức Maria, Giáo Hội chứng tỏ rằng Chúa Kitô không những giải thoát chúng ta khỏi tội, mà cũng gìn giữ chúng ta khỏi quyền lực của nó.

Chiều kích sự gìn giữ này, thành toàn nơi Đức Maria, hiện diện trong sự can thiệp cứu rỗi, qua đó Chúa Kitô khi giải thoát người ta khỏi tội thì cũng ban cho họ ân sủng và sức mạnh để chiến thắng ảnh hưởng sự tội trong đời sống mình.

Vô nhiễm nguyên tội là không mắc tội nguyên tổ. Có nghĩa là ngay từ giây phút đầu tiên thụ thai trong lòng thân mẫu, con người (hồn xác) của Mẹ hoàn toàn đóng kín, không một kẻ hở nào cho tội lỗi và cho tất cả những gì thuộc trần gian đã bị tội lỗi làm hư thối. Mẹ cũng hoàn toàn đóng kín với chính bản thân của mình, cái "tôi" của mình. Đóng kín với tất cả, để Mẹ có thể trọn vẹn mở ra cho Thiên Chúa và chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi. Đó là đặc ân Vô Nhiễm của Mẹ Maria. Với đặc ân này, Mẹ Maria dù vẫn sống cuộc đời trần thế của một con người, Mẹ có thể qui hướng tất cả và trọn vẹn từng chi tiết của bản thân và từng giây phút của đời sống về cho Chúa. Nói cách khác, đặc ân Vô Nhiễm ban cho Mẹ Maria có khả năng không ngừng thuộc về Chúa cả hồn lẫn xác. Mẹ xứng đáng lên trời cả hồn xác để mãi mãi thuộc về Chúa.

b) Mẹ Maria trọn đời đồng trinh.

Giáo Hội luôn luôn chủ trương rằng đức đồng trinh của Đức Maria là một chân lý đức tin, như đã lãnh nhận và suy nghĩ theo chứng từ các Tin Mừng Thánh Luca và Mathêô.

Trong câu chuyện Truyền Tin, Thánh Sử Luca gọi Đức Maria là “Người Trinh Nữ”, nhắm tới ý muốn của Người được giữ mãi đức đồng trinh, cũng như tới kế hoạch Thiên Chúa hoà trộn ý muốn nầy với chức là Mẹ kỳ diệu của Người. Sự khẳng định việc thụ thai còn đồng trinh do tác động của Chúa Thánh Thần, đã loại trừ mọi giả thuyết sinh sản đơn tính và loại bỏ những cố gắng giải thích trình thuật Thánh Luca như là sự triển khai một chủ đề Do Thái hay là như bắt nguồn từ chuyện thần thoại ngoại giáo.

Thánh sử Mathêô, thuật lại lời Thiên Thần loan báo cho Thánh Giuse, quả quyết như Thánh Luca rằng việc thụ thai là “công trình của Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 20) và loại trừ những quan hệ vợ chồng.

Hơn nữa, việc thụ thai Chúa Giêsu mà vẫn còn trinh tiết, được thông báo cho Thánh Giuse một thời gian sau: đối với Thánh Giuse, vấn đề không phải là được mời tỏ dấu đồng thuận trước lúc thụ thai Con Đức Maria, vì đây là kết quả giữa sự can thiệp siêu nhiên do Chúa Thánh Thần và sự hợp tác về phía Người Mẹ mà thôi. Thánh Giuse chỉ được yêu cầu tự do lãnh nhận vai trò người chồng của Đức Maria và sứ vụ làm cha Con Trẻ.

Thánh Mathêô trình bày nguồn gốc đồng trinh của Chúa Giêsu như là sự hoàn thành lời ngôn sứ Isaia: “Nầy đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và tên Người sẽ được gọi là Emanuen”, (có nghĩa là Chúa ở cùng chúng ta) (Is 7, 14). Như vậy Thánh Mathêô cho phép chúng ta kết luận rằng sự trinh thai là đối tượng suy nghĩ trong cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, và họ đã hiểu sự trinh thai đó là đúng với chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa và liên hệ chặt chẽ với căn tính Đức Giêsu, “Chúa ở cùng chúng ta”.

Kiểu nói dùng trong việc phán quyết tín điều Hồn Xác lên trời: “Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm, trọn đời đồng trinh” cũng bao hàm sự liên hệ giữa đức đồng trinh và chức làm mẹ của Đức Maria: cả hai đặc ân được phối hợp lạ lùng trong sự thụ thai Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật và người thật. Như vậy đức đồng trinh của Đức Maria được gắn liền mật hiết với chức làm mẹ Chúa và sự toàn thánh của Người.

Trong một tập truyện mang tựa đề “Báu Vật Trần Gian” có kể lại một câu chuyện như sau:

Người ta kể rằng một thiên thần nọ trong một ngày đẹp trời đã trốn khỏi thiên đàng tìm đường xuống thăm trần thế. Ngài rảo qua khắp cánh đồng, nhà cửa, làng mạc, thôn xóm... để thưởng ngoạn vẻ đẹp trần thế. Chiều nay, ngài phải về thiên đàng và ngài muốn mang theo về những báu vật của trần gian.

Ngài thấy những đoá hồng tươi nở toả hương thơm diệu vợi dưới ánh nắng mai tươi mát. Ngài tự nhủ: “Hoa hồng thơm ngát và xinh đẹp biết bao, ta phải lấy một bông mang về trời mới được.” Ngài ngắt lấy một bông. Khi bay ngang qua một căn nhà quê vách đất, ngài nhìn qua khe cửa thấy nụ cười thơ ngây của một em bé, ngài khẽ nói: “nụ cười của em bé xinh đẹp hơn bông hồng, ta cũng phải lấy về trời mới được”. Rồi nhìn xa hơn, ngài thấy tình yêu bà mẹ đang tràn đổ xuống như thác nguồn ngọt ngào trinh trong, khi bà hôn con và chúc nó ngủ ngon. Ồ, tình yêu người mẹ là báu vật đẹp nhất ta tìm thấy trên trần gian, ta phải mang nó về thiên đàng mới được.

Với ba báu vật trong mình, ngài bay thẳng về thiên đàng. Nhưng trước khi bước vào cổng, ngài quyết định kiểm lại báu vật. Ngạc nhiên, ngài thấy những đoá hồng đã tàn héo, và nụ cười thơ ngây của em bé đã đổi sang nhăn nhó, chỉ còn có tình yêu người mẹ vẫn giữ được vẻ trinh trong xinh đẹp , ngài vất đoá hồng héo và nụ cười hết tươi của em bé đi, rồi bước vào thiên đàng. Cả triều đình xúm vào chào đón và mong xem ngài mang về những gì. Ngài chỉ cho họ xem và nói: chỉ có mỗi tình yêu người mẹ tôi nhận thấy còn giữ nguyên được vẻ xinh đẹp của nó từ đất lên đến trời. Tình yêu người mẹ là điều ngọt ngào nhất trên trần gian."

Kết Luận.

Đặc ân Mẹ lên trời vinh quang chung qui mọi đặc ân của Mẹ và là cùng đích trót cuộc sống, sứ mạng và huân công của Mẹ. Mẹ được gìn giữ khỏi phải hư nát ở trong mồ để nên giống Con mình. Sau khi chiến thắng sự chết, Mẹ được đưa lên vinh quang trên trời cả hồn xác, nơi Mẹ được sáng láng làm Nữ Vương ngự bên hữu Con mình là Vua bất tử của mọi thời.

Ngày nay Mẹ Maria đã được muôn đời vinh hiển hồn xác trên trời, là hình ảnh và khởi thuỷ của Giáo hội phải được hoàn thành đời sau. Dưới đất này cho tới ngày Chúa đến, Mẹ chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi dịu êm cho dân Chúa (LG, 68), cách riêng cho từng người và toàn thể đoàn con Mẹ đang phấn khởi theo gót Mẹ trong cuộc lữ hành về quê trời.